Paul Ehrlich

Article

May 29, 2022

Paul Ehrlich (tiếng Đức: [ˈpʰaʊ̯l ˈeːɐ̯lɪç] (nghe); 14 tháng 3 năm 1854 - 20 tháng 8 năm 1915) là một bác sĩ và nhà khoa học người Đức đoạt giải Nobel, người đã làm việc trong các lĩnh vực huyết học, miễn dịch học và hóa trị liệu kháng vi khuẩn. Trong số những thành tựu quan trọng nhất của ông là tìm ra phương pháp chữa trị bệnh giang mai vào năm 1909 và phát minh ra kỹ thuật tiền thân của vi khuẩn nhuộm Gram. Các phương pháp mà ông phát triển để nhuộm mô giúp phân biệt giữa các loại tế bào máu khác nhau, dẫn đến khả năng chẩn đoán nhiều bệnh về máu. Phòng thí nghiệm của ông đã phát hiện ra arsphenamine (Salvarsan), loại thuốc điều trị bệnh giang mai hiệu quả đầu tiên, từ đó khởi xướng và cũng đặt tên cho khái niệm hóa trị. Ehrlich đã phổ biến khái niệm về một viên đạn ma thuật. Ông cũng có đóng góp quyết định trong việc phát triển một loại kháng huyết thanh để chống lại bệnh bạch hầu và hình thành phương pháp tiêu chuẩn hóa các huyết thanh điều trị. Ông là người sáng lập và giám đốc đầu tiên của Viện Paul Ehrlich, một tổ chức nghiên cứu và cơ quan quản lý y tế của Đức, là viện liên bang của quốc gia về vắc xin và y sinh học. Một chi của vi khuẩn Rickettsiales, Ehrlichia, được đặt theo tên của ông.

Cuộc đời và sự nghiệp

Ehrlich sinh ngày 14 tháng 3 năm 1854 tại Strehlen thuộc tỉnh Lower Silesia của Phổ thuộc vùng Tây Nam Ba Lan ngày nay. Ông là con thứ hai của Rosa (Weigert) và Ismar Ehrlich, thủ lĩnh của cộng đồng Do Thái địa phương. Cha của ông là một chủ quán trọ kiêm nhà chưng cất rượu mùi và là người thu vé số hoàng gia ở Sterilen, một thị trấn có khoảng 5.000 cư dân. Ông nội của anh, Heymann Ehrlich, từng là một nhà quản lý quán rượu và nhà chưng cất rượu khá thành công. Ehrlich là chú của Fritz Weigert và là anh họ của Karl Weigert. Sau khi học tiểu học, Paul theo học tại trường trung học nổi tiếng Maria-Magdalenen-Gymnasium ở Breslau, nơi anh gặp Albert Neisser, người sau này trở thành một đồng nghiệp chuyên nghiệp. Khi còn là một cậu học sinh (được truyền cảm hứng từ người anh họ Karl Weigert, người sở hữu một trong những microtomes đầu tiên), anh bị cuốn hút bởi quá trình nhuộm các chất mô cực nhỏ. Ông đã duy trì sự quan tâm đó trong suốt quá trình học y khoa sau đó tại các trường đại học Breslau, Strasbourg, Freiburg im Breisgau và Leipzig. Sau khi lấy bằng tiến sĩ năm 1882, ông làm việc tại Charité ở Berlin với tư cách là trợ lý giám đốc y tế dưới quyền của Theodor Frerichs, người sáng lập ngành y học lâm sàng thực nghiệm, tập trung vào mô học, huyết học và hóa học màu (thuốc nhuộm) .. Ông kết hôn với Hedwig Pinkus (1864–1948) vào năm 1883 trong giáo đường Do Thái ở Neustadt (nay là Prudnik, Ba Lan). Cặp đôi đã có hai con gái, Stephanie và Marianne. Hedwig là em gái của Max Pinkus, chủ một nhà máy dệt ở Neustadt (sau này được gọi là ZPB "Frotex"). Anh định cư tại biệt thự của gia đình Fränkel trên Wiesenerstrasse ở Neustadt. Sau khi hoàn thành chương trình giáo dục lâm sàng và điều dưỡng tại trường y khoa Charité nổi tiếng và bệnh viện giảng dạy ở Berlin vào năm 1886, Ehrlich đã đến Ai Cập và các nước khác vào năm 1888 và 1889, một phần để chữa một ca bệnh lao mà ông đã mắc phải trong phòng thí nghiệm. Khi trở về, ông đã thành lập một phòng thí nghiệm y tế tư nhân và một phòng thí nghiệm nhỏ ở Berlin-Steglitz. Năm 1891, Robert Koch mời Ehrlich tham gia vào đội ngũ nhân viên tại Viện Bệnh truyền nhiễm Berlin của ông, nơi vào năm 1896, một chi nhánh mới, Viện Nghiên cứu và Thử nghiệm Huyết thanh (Institut für Serumforschung und Serumprüfung), được thành lập cho chuyên môn của Ehrlich. Ehrlich được chỉ định là giám đốc sáng lập của nó. Năm 1899, viện của ông chuyển đến Frankfurt am Main và được đổi tên thành Viện Trị liệu Thực nghiệm (Institut für Experielle Therapie). Một trong những cộng tác viên quan trọng của ông ở đó là Max Neisser. Năm 1904, Ehrlich nhận đầy đủ chức vụ giáo sư danh dự từ Đại học Göttingen. Năm 1906 Ehrlich trở thành giám đốc của Georg Speyer Ho