Cách mạng quốc gia Indonesia

Article

May 25, 2022

Cách mạng Quốc gia Indonesia, hay Chiến tranh giành độc lập Indonesia, là một cuộc xung đột vũ trang và đấu tranh ngoại giao giữa Cộng hòa Indonesia và Đế chế Hà Lan và một cuộc cách mạng xã hội nội bộ trong thời kỳ hậu chiến và hậu thuộc địa Indonesia. Nó diễn ra giữa việc Indonesia tuyên bố độc lập vào năm 1945 và việc Hà Lan chuyển giao chủ quyền đối với Đông Ấn thuộc Hà Lan cho Cộng hòa Indonesia vào cuối năm 1949. Cuộc đấu tranh kéo dài 4 năm bao gồm xung đột vũ trang lẻ tẻ nhưng đẫm máu, các biến động chính trị và cộng đồng nội bộ Indonesia, và hai can thiệp ngoại giao quốc tế lớn. Lực lượng quân sự Hà Lan (và trong một thời gian, lực lượng của các đồng minh trong Thế chiến thứ hai) đã có thể kiểm soát các thị trấn, thành phố lớn và các khu công nghiệp trong vùng trung tâm của Đảng Cộng hòa trên Java và Sumatra nhưng không thể kiểm soát vùng nông thôn. Đến năm 1949, quốc tế gây áp lực lên Hà Lan, Hoa Kỳ đe dọa cắt tất cả viện trợ kinh tế cho các nỗ lực tái thiết trong Thế chiến II cho Hà Lan và một phần bế tắc quân sự trở nên khiến Hà Lan chuyển giao chủ quyền đối với Đông Ấn thuộc Hà Lan cho Cộng hòa Hợp chủng quốc Indonesia. Cuộc cách mạng đánh dấu sự kết thúc của chính quyền thuộc địa ở Đông Ấn thuộc Hà Lan, ngoại trừ New Guinea. Nó cũng làm thay đổi đáng kể các thành phần dân tộc cũng như làm giảm quyền lực của nhiều người cai trị địa phương (raja). Nó không cải thiện đáng kể vận mệnh kinh tế hoặc chính trị của phần lớn dân số, mặc dù một số ít người Indonesia đã có thể giành được vai trò lớn hơn trong thương mại.

Nền

Phong trào đòi độc lập của Indonesia bắt đầu vào tháng 5 năm 1908, được kỷ niệm là "Ngày thức tỉnh dân tộc" (tiếng Indonesia: Hari Kebangkitan Nasional). Chủ nghĩa dân tộc Indonesia và các phong trào ủng hộ độc lập khỏi chủ nghĩa thực dân Hà Lan, chẳng hạn như Budi Utomo, Đảng Quốc gia Indonesia (PNI), Sarekat Islam và Đảng Cộng sản Indonesia (PKI), đã phát triển nhanh chóng trong nửa đầu thế kỷ 20. Budi Utomo, Sarekat Islam và những người khác theo đuổi chiến lược hợp tác bằng cách tham gia Volksraad ("Hội đồng Nhân dân") do người Hà Lan khởi xướng với hy vọng Indonesia sẽ được tự chủ. Những người khác chọn chiến lược bất hợp tác đòi quyền tự do tự trị từ thuộc địa Đông Ấn của Hà Lan. Đáng chú ý nhất trong số các nhà lãnh đạo này là Sukarno và Mohammad Hatta, hai sinh viên và các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc đã được hưởng lợi từ các cải cách giáo dục của Chính sách Đạo đức Hà Lan. Việc Nhật Bản chiếm đóng Indonesia trong 3 năm rưỡi trong Chiến tranh thế giới thứ hai là một nhân tố quan trọng trong cuộc cách mạng tiếp theo. Hà Lan có rất ít khả năng để bảo vệ thuộc địa của mình trước quân đội Nhật Bản, và chỉ trong vòng ba tháng sau các cuộc tấn công ban đầu, quân Nhật đã chiếm đóng Đông Ấn thuộc Hà Lan. Ở Java, và ở mức độ thấp hơn ở Sumatra (hai hòn đảo nổi trội của Indonesia), người Nhật đã truyền bá và khuyến khích tình cảm dân tộc chủ nghĩa. Mặc dù điều này được thực hiện nhiều hơn vì lợi thế chính trị của Nhật Bản hơn là từ sự ủng hộ vị tha cho nền độc lập của Indonesia, sự hỗ trợ này đã tạo ra các thể chế mới của Indonesia (bao gồm các tổ chức địa phương lân cận) và các nhà lãnh đạo chính trị tầm cỡ như Sukarno. Cũng quan trọng không kém đối với cuộc cách mạng sau đó, người Nhật đã phá hủy và thay thế phần lớn cơ sở hạ tầng kinh tế, hành chính và chính trị do Hà Lan tạo ra. Ngày 7 tháng 9 năm 1944, với cuộc chiến đang diễn ra tồi tệ đối với người Nhật, Thủ tướng Koiso đã hứa độc lập cho Indonesia, nhưng không có ngày được thiết lập. Đối với những người ủng hộ Sukarno, thông báo này được coi là minh chứng cho sự hợp tác của anh ấy với người Nhật.

Tuyên bố độc lập

Dưới áp lực của các nhóm pemuda ('thanh niên') cực đoan và chính trị hóa, vào ngày 17 tháng 8 năm 1945, hai ngày sau khi Nhật hoàng đầu hàng ở Thái Bình Dương, Sukarno và Hatta tuyên bố độc lập cho Indonesia. Ngày hôm sau, Ủy ban trù bị cho Độc lập Indonesia (PPKI) đã bầu Sukarno làm Tổng thống, và Hatta